Hàng không vận tải trong khu vực
Trung tâm Hàng không Châu Á Thái Bình Dương cho biết ngành hàng không của khu vực này đã thực hiện khá nhiều thay đổi lớn về cơ cấu dịch vụ. Trung tâm này dự báo ngành vận tải hàng không của khu vực này sẽ tăng trưởng nhanh do các quốc gia đang tập trung kế hoạch xuất khẩu hàng hóa sang các nước láng giếng.
Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương được đánh giá là sẽ phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, xét trên khía cạnh thương mại, Châu Á vẫn chưa thể hiện hết tiềm năng của mình. Hầu hết quan hệ thương mại của các nước trong khu vực, đặc biệt là Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam và Malaysia, phụ thuộc vào các nước khác trên thế giới như Mỹ và Châu Âu. Mối quan hệ thương mại nội vùng giữa các nước Châu Á hầu như chưa được quan tâm. Đặc điểm này phản ánh khá rõ trong ngành hàng không của khu vực.
Theo dõi ngành này, ông Peter Harbison thuộc Trung tâm Hàng không Châu Á-Thái Bình Dương nhận thấy số lượng các đường bay ngắn trong khu vực của các hãng hàng không giá rẻ gia tăng nhanh chóng. Khi kinh tế các nước Châu Á phát triển hơn thì thương mại giữa các nước trong khu vực sẽ và phát triển mạnh mẽ hơn. Các giao dịch thương mại thành công một phần nhờ sự hỗ trợ của dịch vụ vận tải hàng không. Chính vì vậy theo dự đoán, khu vực Châu Á -Thái Bình Dương sẽ là nơi tập trung tăng trưởng của ngành hàng không trong tương lai.
Cơ hội cho các hãng không quốc gia?
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng dự báo của ngành hàng không vận tải có lẽ chưa đủ thuyết phục các hãng hàng không quốc gia trong khu vực hiện đang phải cạnh tranh để tồn tại.
Ông Peter Harbison đã lý giải cho những khó khăn của các hãng hàng không quốc gia trong khu vực là dù kinh doanh dịch vụ hàng không là một ngành hấp dẫn và nó hỗ trợ cho nhiều ngành kinh tế khác như du lịch, thương mại… nhưng bản thân ngành này vẫn phải nhận sự trợ giúp của chính phủ. Trong quá khứ, các chính phủ nghĩ rằng họ cần có một hãng hàng không mang ‘màu cờ’ của quốc gia để phục vụ khách hàng và là cầu nối thương mại với thế giới. Kết quả là mỗi nước có một hãng hàng không quốc gia chịu sự kiểm soát của chính phủ về giá vé cũng như quá trình tiếp cận thị trường. Ông Peter Harbison cho biết với cơ chế kiểm soát gần như không mang tính thương mại theo kiểu cũ này, các nước trong khu vực đã phát triển những hãng hàng không hoạt động kinh tế kém hiệu quả. Và trong bối cảnhtự do hóa thương mại và bãi bỏ các rào cản thuế quan hiện nay, nhiều hãng hàng không đã bộc lộ những yếu kém trong hoạt động.
Việc cổ phẩn hóa hay chuyển nhượng các hàng không quốc gia tuy là một giải pháp tốt nhưng ông Harbison nghĩ rằng nó sẽ có ảnh hưởng tiêu cực tới nhiều người, đặc biệt là các nhân viên làm việc trong ngành hàng không và những bên liên quan khác. Một ví dụ điển hình và cũng là điều còn gây nhiều tranh cãi là khi hãng hàng không Ansett của Úc phá sản. Khi phân tích lại tính hiệu quả của Ansett, hãng này xếp thứ 299/300 hãng hàng không về tính hiệu quả, thực tế và thương mại. Nếu nói về thị trường, Ansett và Qantas là hai hãng hàng không độc quyền trong thị trường nội địa Úc và vì vậy giá vé khá cao. Tuy vậy, tốc độ tăng trưởng hãng này lại thấp hơn cả mức tăng trưởng GDP. Vì vậy, khi tham gia vào thị trường tự do, Ansett bị các hãng hàng không giá rẻ hoạt động hiệu quả hơn cạnh tranh và đánh bật ra khỏi thị trường. Dù vậy, kể từ khi Ansett phá sản, giá vé máy bay nội địa đã ngày càng giảm giá, điều này đã mở ra một cơ hội tốt cho ngành du lịch và các ngành kinh doanh khác.
Đăng nhập hoặc đăng ký để chia sẻ ý kiến
Ý kiến