Khác với thuyết chọn lọc tự nhiên, thuyết chọn lọc giới tính vẫn chưa được công nhận trong hơn một thế kỷ. Tuy nhiên ngày nay, nó đã trở thành một trong những lĩnh vực nghiên cứu sôi động nhất trong ngành sinh học tiến hóa với nhiều báo cáo tái đánh giá liên tục được công bố.
Con người luôn quan tâm đến nguồn gốc của giới tính. Liệu động vật giống đực có mang lại lợi ích hay không? Giáo sư Hanna Kokko người Phần Lan, giáo sư trợ giảng tại Đại học Quốc gia Úc tại Canberra, hiện đang ở Cambridge, đã bày tỏ mối quan tâm về vấn đề này.
Ông cho biết: “Darwin đã từng viết trong bức thư nổi tiếng của mình rằng khi nhìn thấy lông chim công, ông cảm thấy cơ thể mệt mỏi. Nếu đọc về cuộc đời của Darwin, chúng ta sẽ thấy trên thực tế, rất nhiều điều làm ông cảm thấy phát ốm. Vì vậy, nếu có thể mời ông đến nói chuyện tại đây, có lẽ ông còn hồi hộp hơn chúng ta nhiều.
Tuy nhiên, nguyên nhân khoa học của hiện tượng chim công làm Darwin cảm thấy đau đầu chính là vì ông không thể giải thích được tại sao thuyết chọn lọc tự nhiên không thể áp dụng để lý giải về những cấu trúc màu sắc tương tự như bộ lông chim công. Do vậy, Darwin đã đưa ra học thuyết thứ hai, học thuyết chọn lọc giới tính. Ông định nghĩa chọn lọc giới tính là sự đấu tranh giữa các cá thể cùng một giới tính, thường là con đực, để chiếm quyền sở hữu một người bạn đời thuộc giới tính khác. Nói cách khác, việc đấu tranh sinh tồn chưa đủ và vô nghĩa nếu không thể sinh sản để duy trì nòi giống.
Từ khi có học thuyết chọn lọc giới tính, con người đã mở rộng thêm sự hiểu biết của mình về những đặc điểm như lông và màu sắc. Thậm chí con người có thể đặt những chiếc mũ nhỏ trên đầu công cái để theo dõi chuyển động của mắt khi chúng nhìn các màu sắc và nhờ vậy, chúng ta còn có thể biết được nhiều hơn về giống cái. Tuy nhiên, con người ngày nay cũng lùi lại và đặt ra những câu hỏi mà Darwin có lẽ cũng không nghĩ đến. Có thể Darwin coi hiện tượng có hai giới tính là hiển nhiên và không đặt ra những câu hỏi như tại sao thế giới có loài vật giống đực và giống cái mà không có đến 7 giới tính hoặc không có giới tính nào?
Ngày nay, khi đến thăm một viện hải dương học và nếu may mắn, bạn có thể quan sát hiện tượng một cá thể cá ngựa tiến đến tiếp cận một cá thể khác rồi giao hợp. Sau đó giao tử trôi về một hướng và được nuôi dưỡng trong túi ấp của một cá thể, và rồi tiếp theo đó, những con cá ngựa nhỏ xuất hiện. Con vật mang thai được gọi là con đực. Nhưng liệu có ai từng tự hỏi tại sao chúng ta lại gọi đó là con đực trong khi nó có khá nhiều đặc điểm tương tự với khả năng sinh sản của giống cái.
Cũng không thể đề cập đến các nhiễm sắc thể giới tính vì nhìn chung những nhiễm sắc thể này phụ thuộc vào nhiệt độ và tất cả các yếu tố khiến con người có thể phân biệt con đực chỉ là dựa trên định nghĩa. Theo đó, khi kích cỡ giao tử không bằng nhau, cá thể nào sản sinh ra giao tử nhỏ hơn là con đực. Đó chính là quy ước để phân biệt được con đực và con cái ở loài cá ngựa.
Tuy nhiên, thứ thật sự khiến các nhà khoa học phải mất ngủ chính là loài ruồi giấm. Ở một số loài, tinh trùng khổng lồ tiến hóa to gần bằng trứng, và trong tương lai, không có tác nhân sinh học nào có thể cản trở tình trùng phát triển lớn hơn nữa . Khi đó, con người sẽ thật sự đau đầu khi muốn xác định đâu là con đực và đâu là con cái nếu tiếp tục áp dụng định nghĩa hiện nay.
Và hài hước hơn 1 chút, nếu có thể tìm thấy tinh trùng dài 70 kilomet trên sao hỏa thì sao? Có thể chưa có loại tình trùng như vậy nhưng cũng hãy tưởng tượng thử xem.
Như vậy, một tin xấu dành cho khoảng một nửa đọc giả của bài này chính là con đực trong sinh học tiến hóa được coi là sinh vật gây rắc rối. Người ta thường nói rằng sinh sản giới tính rất khó lý giải. Tuy nhiên, vấn đề sinh sản giới tính không hoàn toàn giống với việc phân chia giống đực và giống cái. Nhiều loài sinh vật vẫn có thể có quan hệ tình dục mà không có con đực và nguyên nhân là (lại chính là những con đực gây ra sự phức tạp này) khi có quan hệ tình dục, nghĩa là con đực truyền lại một số gen và nghĩa là cần phải xác định đâu là mức độ vừa phải theo một cách hơi khác. Tuy nhiên, dù là nghiên cứu các cá thể hay xem xét tổng số đầu ra chúng ta đều có một câu trả lời giống nhau, các cặp đôi vẫn có 10 con và 5 bản sao di truyền của mỗi con.
Thế nhưng một khi có giống đực, nghĩa là các giao tử nhỏ, thì ở nhiều loài, tác dụng duy nhất của con đực là truyền giao tử cho con cái. Cứ như vậy, con đực thường cạnh tranh với nhau chứ không làm điều gì đó hữu ích cho thế hệ sau. Cũng vì thế, mức độ tăng trưởng số lượng của loài sẽ giảm một nửa và sự sung sức của những con cái cũng giảm với tỉ lệ tương đương. Như vậy, lựa chọn giới tính không làm tăng những yếu tố dễ nhận biết và dễ thích nghi như chọn lọc tự nhiên, và nhận định này đúng trong nhiều trường hợp.
Hãy chuyển hướng quan tâm của bạn sang loài hải cẩu và hoàn toàn có lý do để đề cập đến loài hải cẩu ở đây… Khi một con hải cẩu cái trưởng thành nằm cạnh một con hải cẩu đực vô cùng to lớn. Khi đó, tất cả số thức ăn con hải cẩu đực đã ăn không thật sự mang lại lợi ích gì cho hải cẩu con. Số thức ăn đó chỉ được sử dụng để cạnh tranh với những con đực khác để rồi không đạt được hiệu quả gì cả. Tuy nhiên, khi xem những đoạn phim tài liệu về thiên nhiên với những hình ảnh mê hoặc, chúng ta sẽ thật sự ngạc nhiên... Sự đa dạng, những điều kỳ quái cũng như những điều tuyệt vời trong tự nhiên như loài ruồi mắt lồi chẳng hạn, sẽ khiến bạn càng mở rộng tầm mắt và càng cảm thấy mình quyến rũ hơn. Thiên nhiên sẽ rất tẻ nhạt nếu thiếu những yếu tố đầy màu sắc và âm thanh như vậy. Tuy nhiên, câu hỏi quan trọng vẫn chưa được giải đáp: con người hiểu những hiện tượng này thế nào? Chọn lọc giới tính có thật sự đối lập với tất cả những gì từng thấy trước nay hay không? Nếu quan sát những con đực, có thể thấy thực sự chúng không làm được việc gì hữu ích ngoài việc cảnh giới dã thú, v.v. Có lẽ những con đực chỉ tình cờ xem xét đâu là đối tác có gen tốt hơn để truyền cho thế hệ sau. Đó không phải là sự đấu tranh để chọn lọc trong giống loài vì những con đực không muốn làm điều đó. Đó có thể đơn giản là kết quả của sự chọn lọc giới tính. Và cũng thật thú vị vì sau nhiều thập kỷ nghiên cứu, con người vẫn chưa tìm ra lời giải đáp cho hiện tượng này.
Có nhiều ví dụ cho thấy suy luận này hoàn toàn sai và trong lúc giống đực đang bị quy trách nhiệm thì trường hợp dưới đây chính là một bằng chứng cho việc giống cái cũng có thể giữ thế chủ động. Hãy tưởng tượng một loài mà những đốm đen thể hiện vẻ hấp dẫn giới tính (và thực sự là có nhiều loài giống như vậy). Nếu như xuất hiện một khối u hắc tố, thường là một chấm đen nhỏ trên bề mặt da của bạn, đó có thể là một điều rất tồi tệ đối với bạn. Tuy nhiên, nếu nó xuất hiện ở loài cá, nó sẽ lập tức biến thành dấu hiệu thể hiện sự hấp dẫn giới tính dù thật ra đó là dấu hiệu của bệnh ung thư. Như vậy, những con cái thích các chấm đen sẽ muốn phát tán các gen đột biến này và điều này có vẻ rất ngộ nghĩnh. Vì thế, sự lựa chọn giới tính, ít nhất là ở loài cá, trên thực tế là yếu tố nuôi dưỡng bệnh ung thư.
Mặt khác, cũng có khá nhiều ví dụ trái ngược. Loài bọ trong củ hành trông giống như những chấm trắng nhỏ là một điển hình. Các nhà nghiên cứu có thể dùng rất nhiều chất phóng xạ với những con vật này. Phóng xạ rất có hại cho con người, có thể gây đột biến và giảm tuổi thọ. Tuy nhiên, chất phóng xạ có thể được thí nghiệm với những loài có hoặc không có lựa chọn giới tính, nghĩa là cho phép con đực cạnh tranh tìm con cái hay không. Trên thực tế, trong những trường hợp tương tự, lựa chọn giới tính có thể mang lại hiệu quả tích cực. Lựa chọn giới tính giúp các cá thể có thể khả năng sống sót cao hơn với những phương pháp điều trị như dùng phóng xạ nếu kiểu di truyền được phép giảm trong thế hệ tiếp theo.
Một trong những cách lý giải hiện tượng này là chúng ta có thể lý giải sự tuyệt chủng của loài nai sừng tấm Ai-len vào hơn 10.000 năm trước như thế nào? Gạc của những con hươu này cân nặng gần bằng trọng lượng cơ thể một người bình thường. Nếu tìm thông tin trên internet, có thể thấy người ta giải thích rằng gạc của loài hươu này phát triển quá to nên chúng bị tắc giữa các cành cây và vì vậy mà loài này bị tuyệt chủng. Tôi không tin điều này nhưng tôi không biết lời giải đáp nào khác. Tôi muốn chỉ ra rằng khi loài người xuất hiện và bắt đầu khai thác các loài động vật khác, những loài vật có ngoại hình to lớn có xu hướng bị tác động nhiều hơn. Vậy thì, tôi giả thuyết rằng nếu thuyết chọn lọc giới tính áp dụng đối với loài người và nếu bạn là một tay thợ săn chuyên nghiệp, khi đó khả năng sinh sản sẽ dễ dàng hơn và đó có thể là 1 cách lý giải. Và tôi nghĩ mình đã có thể dừng lại.”
Đăng nhập hoặc đăng ký để chia sẻ ý kiến
Ý kiến